Tác động của Công nghiệp hóa tới ngành dệt may

0
70

Công nghiệp hóa đang là một xu hướng toàn cầu. Không một ngành nghề nào có thể tránh thoát được cơn lốc này. “Thay đổi hay là chết” chính là nhiệm vụ hàng đầu của các doanh nghiệp ngành dệt may nói riêng cũng như các ngành nghề khác nói chung. Hướng phát triển khả quan nhất hiện tại cho ngành may chính là chuyển từ mô hình “định hướng xuất khẩu” sang phục vụ tầng lớp trung lưu trong khu vực.

Không phải chuyện xa vời

Đó là kết luận do Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đưa ra vào tháng 7 năm ngoái sau một loạt nghiên cứu. Nối tiếp cảnh báo này, cuối năm 2016, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Việt Nam nhấn mạnh khoảng 80% người lao động tay nghề thấp ở nước ta sẽ mất việc vào tay robot, trong đó 2 ngành đối diện nguy cơ lớn nhất là may mặc và điện tử.

Dĩ nhiên, tình trạng mất việc hàng loạt không xảy ra một sớm một chiều song xu hướng “robot hóa” thực chất đang diễn ra. Có đến 9 triệu công việc thuộc khối ngành nghề dệt, may mặc và sản xuất giày ở khắp các nước Đông Nam Á. Theo báo cáo của ILO, nhiều khả năng 64% công nhân dệt may, giày ở Indonesia sẽ mất việc vào tay các dây chuyền sản xuất tự động – còn gọi là “sewbot” (tạm dịch: robot may mặc). Con số này ở Việt Nam và Campuchia cao hơn nhiều, dự báo lần lượt là 86% và 88%.

Theo trang Quartz, hầu hết công đoạn trong quy trình may mặc đã được tự động hóa, từ chọn nút đến cắt vải. Một số máy móc chuyên biệt còn có thể khâu túi. Dù chưa có một robot thương mại nào đủ khả năng xâu chuỗi tất cả các khâu với đủ loại vải vóc, kim chỉ… để làm ra một cái áo hay cái quần hoàn chỉnh nhưng với đà tiến công nghệ hiện nay, không gì là không thể.

Ở Việt Nam, báo cáo của ILO nêu trường hợp một công ty may đầu tư máy cắt tự động vào năm 2015, sau đó cho nghỉ việc 15 công nhân tương ứng 1 máy. Trong vòng 18 tháng, công ty chứng minh chi phí được tiết kiệm và không cần tuyển mới công nhân bởi chỉ cần 1 người đã điều khiển được 3-4 máy.

Nguy hay cơ?

Dù tạo ra nhiều việc làm nhưng năng suất trong ngành dệt may Việt Nam thấp hơn nhiều so với các nước Đông Nam Á khác – chỉ bằng 20% của Thái Lan và tương đương của Campuchia. Mức độ áp dụng công nghệ cũng xếp sau.

Ông Jae-hee Chang, đồng tác giả báo cáo của ILO, cho hay các công ty đều muốn áp dụng công nghệ tự động để tăng sức cạnh tranh về giá và chất lượng sản phẩm. Nhưng muốn vậy đòi hỏi phải có đầu tư lớn về công nghệ và đào tạo mạnh về công nhân. Đây là 2 rào cản chưa dễ vượt qua lúc này để các sewbot “đổ bộ” các nhà máy ở châu Á, theo báo The Guardian (Anh).

Ngược lại, lắp đặt các dây chuyền tự động ở châu Âu và Mỹ là chuyện không quá khó khăn. Bắt đầu từ năm 2017 này, xí nghiệp mang tên “Speedfactory” đặt tại Đức của Công ty Adidas sẽ sử dụng robot để sản xuất giày. Với 2 dây chuyền robot, Speedfactory chỉ cần 160 nhân viên. Adidas nói Speedfactory chỉ xuất xưởng 500.000 đôi giày/năm – quá khiêm tốn so với tổng sản lượng 301 triệu đôi giày trên toàn cầu của hãng vào năm 2015 – và phần lớn sản phẩm của hãng vẫn ra lò từ các dây chuyền hiện hữu. Dù khởi động từ tốn song Adidas không giấu giếm việc mở thêm nhà máy tương tự ở Mỹ và gọi chiến lược này là “thay đổi cuộc chơi”.

Thực tế trên gây áp lực ngược lại các nước ASEAN cũng như cho thấy vai trò của robot trong hoạt động sản xuất là không thể đảo ngược. Theo ông Jae-hee Chang, có thể tránh được kịch bản mất việc hàng loạt nếu các xí nghiệp may ASEAN kịp thay đổi, chuyển từ mô hình sản xuất “định hướng xuất khẩu” sang phục vụ tầng lớp trung lưu ngay trong khu vực. “Họ cũng có thể giảm nguy cơ thất nghiệp tràn lan bằng cách sản xuất các mặt hàng chất lượng cao mà các dây chuyền tự động khó thực hiện” – ông Chang phân tích. Ở tầm vĩ mô hơn, các chính phủ liên quan cần có chiến lược đào tạo công nhân để đáp ứng các công việc mang tính công nghệ cao, theo Quartz. Nếu tiếp tục lấy nhân công giá rẻ làm lợi thế cạnh tranh, ILO cho rằng sớm muộn gì cũng bị tụt hậu trong nền kinh tế thế giới.

Tác giả: khoanv.12mf

LEAVE A REPLY